Năng lượng hạt nhân, mặt trận tiếp theo trong chiến lược Ấn Độ -Thái Bình Dương của Trung Quốc

 

Ảnh chụp từ trên không nhà máy điện hạt nhân Trương Châu ở Trung Quốc
Ảnh chụp từ trên không nhà máy điện hạt nhân Trương Châu ở Trung Quốc, xử dụng lò phản ứng Hualong One. Hualong One là lò phản ứng thế hệ thứ ba được khai triển rộng rãi nhất ở Trung Quốc. Các quốc gia xây dựng các lò phản ứng hạt nhân tương lai của Đông Nam Á cuối cùng có thể định hình sự liên kết về công nghệ và địa chính trị của khu vực. (YouTube/China News Service).

Tác giả  Saima Afzal...28 Tháng Năm, 2026.... National Interest.

Các quốc gia xây dựng các lò phản ứng hạt nhân trong tương lai của Đông Nam Á cuối cùng có thể định hình sự liên kết công nghệ với địa chính trị của khu vực.

Ngành công nghiệp năng lượng hạt nhân đang mở rộng của Trung Quốc đang trở thành một công cụ mới có ảnh hưởng địa chính trị trên khắp Đông Nam Á.

Từ Việt Nam đến Indonesia, các chính phủ ngày càng coi năng lượng hạt nhân là cần thiết để duy trì tăng trưởng công nghiệp, cơ sở hạ tầng trí tuệ nhân tạo (AI) và nhu cầu điện ngày càng tăng, đồng thời giảm sự phụ thuộc vào than. Kết quả là một cuộc xem xét lại hạt nhân của khu vực mà dường như nó không thể xảy ra về mặt chính trị chỉ cách đây một thập kỷ.

Việt Nam và Nga đã ký thỏa thuận  nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 vào tháng 3/2026. Philippines và Indonesia đặt mục tiêu vận hành các lò phản ứng vào đầu những năm 2030, trong khi Malaysia, Thái Lan và Singapore đang nghiên cứu các lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) như một phần của kế hoạch năng lượng trong tương lai.

Trung tâm của sự chuyển đổi này là Trung Quốc.

Trong khi Pháp, Nga, Hàn Quốc và Mỹ vẫn là các nhà xuất khẩu lớn điện hạt nhân, Bắc Kinh đã nổi lên như một đối tác hạt nhân dài hạn có lẽ quan trọng nhất đối với Đông Nam Á, kết hợp với tài chính, quy mô công nghiệp và năng lực giao hàng, được nhà nước hậu thuẫn mà ít đối thủ nào có thể sánh kịp.

Quan hệ đối tác hạt nhân không phải là các thỏa thuận về cơ sở hạ tầng thông thường. Đó là những mối quan hệ chiến lược có thể kéo dài hơn nửa thế kỷ và định hình mọi thứ, từ sự phụ thuộc vào nhiên liệu và tiêu chuẩn công nghiệp đến hệ thống quy định và liên kết địa chính trị.

Sự trỗi dậy của ngành công nghiệp năng lượng hạt nhân Trung Quốc.

Sự nổi lên của Trung Quốc như một nhà xuất khẩu hạt nhân lớn là kết quả của nhiều thập kỷ với chính sách công nghiệp bền vững và tích lũy công nghệ.

Tính đến năm 2026, Trung Quốc vận hành 61 lò phản ứng hạt nhân và có 39 lò phản ứng khác đang được xây dựng, mang lại cho nước này đội ngủ lò phản ứng lớn thứ ba thế giới, đồng thời dẫn đầu việc xây dựng hạt nhân trên toàn cầu. Không giống như nhiều ngành công nghiệp phương Tây bị trì trệ sau Chiến tranh Lạnh, Trung Quốc duy trì đầu tư vào kỹ thuật lò phản ứng, sản xuất và phát triển lực lượng lao động. Điều này cho phép Bắc Kinh nội địa hóa khoảng 90% các thành phần của lò phản ứng được sản xuất ở trong nước.

Việc bản địa hóa đó quan trọng về mặt chiến lược. Nó làm giảm lỗ hổng chuỗi cung ứng, giảm chi phí sản xuất và cho phép các công ty Trung Quốc cung cấp các gói chìa khóa trao tay toàn diện, bao gồm kỹ thuật, mua sắm, xây dựng, tài chính, đào tạo và cung cấp nhiên liệu dài hạn.

Trên thực tế, Trung Quốc đang xuất khẩu toàn bộ hệ sinh thái hạt nhân thay vì chỉ các lò phản ứng độc lập.

Trọng tâm của chiến lược này là Hualong One (HPR1000), một lò phản ứng nước áp suất thế hệ thứ ba do Tập đoàn Hạt nhân Quốc gia Trung Quốc và Tập đoàn Điện hạt nhân Tổng hợp Trung Quốc hợp tác phát triển.

Với hơn 40 tổ máy đang hoạt động, đang được xây dựng hoặc đã nhận được sự chấp thuận của chính phủ, Hualong One đã trở thành một trong những thiết kế lò phản ứng được triển khai tích cực nhất trên thế giới. Nó kết hợp các hệ thống an toàn tiên tiến, và tạo ra khoảng 1.100 megawatt mỗi đơn vị — đủ để cung cấp năng lượng cho khoảng 1 triệu ngôi nhà.

Đối với các nền kinh tế đang phát triển phải đối mặt với tình trạng thâm hụt điện ngày càng tăng và áp lực mở rộng công nghiệp, những khả năng này rất hấp dẫn.

Sức hấp dẫn của Trung Quốc cũng nằm ở tốc độ. Các dự án hạt nhân của phương Tây thường phải vật lộn với chi phí vượt trội và sự chậm trễ kéo dài. Nga phải đối mặt với những hạn chế địa chính trị ngày càng tăng, trong khi Hàn Quốc thiếu quy mô tài chính như của Trung Quốc.

Ngược lại, Trung Quốc cung cấp đồng thời tài chính,  khai triển nhanh chóng và triển khai sự tích hợp.

Bắc Kinh được cho là đã đặt mục tiêu xuất khẩu 30 lò phản ứng sang các nước trong Sáng kiến Vành đai và Con đường vào năm 2030, một cú hích có thể trị giá 145 tỷ USD. Các dự án và thỏa thuận hợp tác hạt nhân đã mở rộng trên khắp Pakistan, Argentina, Kenya, Kazakhstan và Ả Rập Saudi.

Đối với các chính phủ Đông Nam Á hoạt động theo các mốc thời gian phát triển chặt chẽ, điều này rất quan trọng.

Những rủi ro chiến lược đằng sau cơ hội hạt nhân của Đông Nam Á.

Tuy nhiên, sức hút của công nghệ hạt nhân Trung Quốc đi kèm với những hậu quả chiến lược mà các chính phủ khu vực không thể dễ dàng bỏ qua.

Cơ sở hạ tầng hạt nhân tạo ra sự phụ thuộc sâu sắc và lâu dài rất bất thường. Tuổi thọ của lò phản ứng thường vượt quá 40 năm, trong khi nguồn cung cấp nhiên liệu, nâng cấp kỹ thuật và quản lý nhiên liệu đã qua xử dụng vẫn gắn liền với nhà cung cấp ban đầu trong nhiều thập kỷ. Điều này đặc biệt quan trọng vì chỉ có một số quốc gia hạn chế có khả năng làm giàu uranium ở quy mô công nghiệp. Nga vẫn thống trị nguồn cung uranium làm giàu thấp toàn cầu, nhưng Trung Quốc đang nhanh chóng mở rộng cơ sở hạ tầng phục vụ cho chu trình nhiên liệu của riêng họ để hỗ trợ xuất khẩu lò phản ứng trong tương lai.

Kết quả là, các quốc gia tiếp nhận có thể trở nên phụ thuộc vào Bắc Kinh không chỉ để xây dựng lò phản ứng mà còn để tiếp cận nhiên liệu lâu dài và hoạt động liên tục.

Việc phụ thuộc vào công nghệ cuối cùng có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng hơn cả sự phụ thuộc vào nhiên liệu. Không giống như các cảng hoặc khu công nghiệp, các hệ sinh thái hạt nhân đặc biệt khó tháo gở một khi sự phụ thuộc vào thể chế và công nghệ trở nên gắn bó trong nhiều thập kỷ. Hệ thống bảo trì, tiêu chuẩn kỹ thuật và điều chỉnh quy định thường vẫn được liên kết với nhà cung cấp ban đầu, dần dần định hình các ưu tiên công nghiệp và liên kết chiến lược theo thời gian.

Do đó, Trung Quốc xuất khẩu cơ sở hạ tầng nhiều hơn cả sản xuất điện. Nó xuất khẩu ảnh hưởng chiến lược lâu dài.

Điều này không nhất thiết ngụ ý xấu, vì tất cả các nhà xuất khẩu hạt nhân lớn đều tạo ra sự phụ thuộc tương tự. Nhưng Trung Quốc kết hợp xuất khẩu lò phản ứng với tài trợ cho Vành đai và Con đường, hội nhập công nghiệp và các cơ chế ảnh hưởng địa chính trị rộng lớn hơn, làm cho các tác động chiến lược trở nên đặc biệt quan trọng.

Đối với các quốc gia Đông Nam Á đang tìm cách duy trì quyền tự chủ chiến lược trong bối cảnh cạnh tranh Mỹ-Trung ngày càng gay gắt, thực tế đó rất quan trọng. Washington ngày càng nhìn nhận cạnh tranh cơ sở hạ tầng quan trọng ở vùng biển Đông Nam Á qua lăng kính chiến lược khi các dự án năng lượng, cảng và kỹ thuật số do Trung Quốc hậu thuẫn mở rộng trên toàn khu vực. Do đó, ngoại giao lò phản ứng của Trung Quốc có thể trở thành một khía cạnh khác trong cạnh tranh ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương về ảnh hưởng, tiêu chuẩn và liên kết khu vực lâu dài.

Do đó, các chính phủ ASEAN cần có khả năng phòng ngừa rủi ro thay vì liên kết độc quyền với bất kỳ nhà cung cấp đơn lẻ nào. Các quốc gia biển Đông Nam Á như Indonesia và Philippines có thể theo đuổi quan hệ đối tác công nghệ đa dạng hơn, trong khi các nền kinh tế Đông Nam Á lục địa có thể hội nhập sâu hơn với hệ sinh thái công nghiệp và tài chính của Trung Quốc.

Sự khác biệt này có nguy cơ tạo ra các hệ sinh thái công nghệ cạnh tranh mà các tiêu chuẩn cơ sở hạ tầng và sắp xếp nhiên liệu, ngày càng phản ảnh sự liên kết địa chính trị rộng lớn hơn, tạo thêm một lớp phân mảnh khác cho cạnh tranh ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Thorium và những tham vọng ở thế hệ tiếp theo của Trung Quốc.

Trung Quốc cũng đang đầu tư mạnh vào các hệ thống hạt nhân thế hệ tiếp theo, đặc biệt là các lò phản ứng muối nóng chảy thorium. Vào tháng 6 năm 2024, lò phản ứng muối nóng chảy Thorium Wuwei của Trung Quốc được cho là đã đạt công suất hoạt động đầy đủ, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong việc phát triển lò phản ứng tiên tiến.

Trong khi công nghệ thorium được quảng bá là an toàn và bền vững hơn so với các chu trình uranium thông thường, ý nghĩa địa chính trị của nó cuối cùng có thể quan trọng hơn các đặc tính kỹ thuật của nó. Nếu Trung Quốc trở thành nhà xuất khẩu lớn các lò phản ứng thorium đầu tiên khả thi về mặt thương mại, Bắc Kinh có thể có ảnh hưởng đáng kể đến các tiêu chuẩn công nghệ hạt nhân trong tương lai trên khắp các khu vực của thế giới đang phát triển.

Chiến lược cân bằng hạt nhân của Đông Nam Á.

Tuy nhiên, việc miêu tả các quốc gia Đông Nam Á chỉ đơn thuần là những người thụ động tiếp nhận ảnh hưởng  của Trung Quốc đã đơn giản hóa thực tế của khu vực.

Nhiều chính phủ đang cố gắng xử dụng quan hệ đối tác với  bên ngoài để đẩy nhanh quá trình học tập công nghệ cho trong nước và xây dựng năng lực công nghiệp. Thái Lan đưa ra một ví dụ. Năm 2015, Ratchaburi Electricity Generating Holding đã mua lại 10% cổ phần của hai lò phản ứng Hualong One tại Fangchenggang ở tỉnh Quảng Tây, trong khi các công ty này của Trung Quốc đồng thời đào tạo các chuyên gia hạt nhân Thái Lan. Sự hợp tác này sau đó đã giúp củng cố bản ghi nhớ Trung Quốc-Thái Lan năm 2025 về hợp tác năng lượng hạt nhân hòa bình.

Điều quan trọng là bản thân Trung Quốc cũng đi theo một con đường phát triển tương tự. Ngành công nghiệp hạt nhân hiện đại của Bắc Kinh được xây dựng một phần thông qua sự tiếp thu công nghệ từ các hệ thống của Canada, Pháp, Nga và Mỹ trước khi Trung Quốc cuối cùng phát triển các lò phản ứng với quyền sở hữu trí tuệ phần lớn của bản địa.

Các quốc gia Đông Nam Á hiện có thể thử một chiến lược tương tự bằng cách ban đầu tận dụng quan hệ đối tác nước ngoài  đồng thời dần dần xây dựng chuyên môn trong nước, năng lực quản lý và năng lực công nghiệp.

Thách thức sẽ là duy trì sự đa dạng hóa. Nếu các chính phủ khu vực trở nên quá phụ thuộc vào bất kỳ nhà cung cấp đơn lẻ nào - dù là Trung Quốc, Nga hay phương Tây - tính linh hoạt chiến lược có thể thu hẹp đáng kể theo thời gian.

Sự hồi sinh hạt nhân của Đông Nam Á không còn chỉ đơn thuần là khử cacbon hoặc sản xuất điện. Nó ngày càng gắn liền với khả năng cạnh tranh công nghiệp, chủ quyền công nghệ, mở rộng cơ sở hạ tầng AI và định vị địa chính trị.

Đối với Trung Quốc, xuất khẩu lò phản ứng tăng cường phạm vi công nghiệp, mở rộng ảnh hưởng địa chính trị và củng cố hình ảnh của Bắc Kinh như một nhà cung cấp các giải pháp công nghệ tiên tiến cho các nước đang phát triển. Đối với các chính phủ Đông Nam Á, hợp tác hạt nhân với Trung Quốc, vấn đề trước mắt là mang lại cơ hội tài chính, khai triển nhanh chóng và học tập công nghiệp mà nhiều đối thủ cạnh tranh hiện đang phải vật lộn để sánh kịp.

Các quốc gia thống trị cơ sở hạ tầng hạt nhân trong tương lai của Đông Nam Á, cuối cùng có thể định hình sự cân bằng ảnh hưởng công nghệ ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương trong phần còn lại của thế kỷ.

-------
_ Tác giả Saima Afzal hiện là học giả nghiên cứu tại Đại học Justus Liebig ở Đức. Bà chuyên về an ninh Nam Á, chống khủng bố và các động lực địa chính trị rộng lớn hơn trên khắp Trung Đông, Afghanistan và khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. 
_ Trần HSa lược dịch từ National Interest.... 02/6/2026.


XEM THÊM